Bạn đã biết dấu hiệu của cơn hen phế quản

160

Hen phế quản là một trong những bệnh lý về hô hấp thường gặp, hen tiến triển từng đợt cấp, sau mỗi đợt diễn biến có thể nặng và nguy hiểm hơn. Nhận biết sớm dấu hiệu và điều trị dứt điểm là việc làm cần thiết.

hen-phe-quan
                                                                       Hen phế quản khiến giảm chất lượng cuộc sống của bạn

Dấu hiệu nhận biết các cơn hen phế quản

– Vã mồ hôi.

– Người tím tái.

– Thở nhanh trên 30 lần/phút

– Nhịp tim nhanh trên 120 nhịp/phút.

– Huyết áp tăng bất thường hoặc xuất hiện dấu hiệu suy tim phải.

– Bị khó thở liên tục không nằm được, phải ngồi tựa lưng cho dễ thở.

– Nghe phổi có tiếng ran rít hai phổi, cả khi hít vào và thở ra.

– Khó nói phải nói từng từ một

– Tình trạng tinh thần kích thích.

Khi có từ 4 dấu hiệu trở lên: thường được chẩn đoán là cơn hen phế quản nặng.

Để điều trị cơn hen phế quản, cách gì?

Nguyên tắc chung:

– Cơn hen phế quản nặng: Xử trí thuốc trước, thủ thuật sau.

– Cơn hen phế quản nguy kịch: Tiến hành thủ thuật trước, xử trí thuốc sau.

Xử trí với cơn hen phế quản nặng:

  1. Xử trí tại chỗ

– Thở ôxy 40-60% nếu có.

– Thuốc dùng ưu tiên hàng đầu là cường bêta-2-giao cảm dạng hít.

+ Salbutamol (Ventolin MDI) bơm họng 2 nhát liên tiếp (khi hít vào sâu). Sau 20 phút chưa đỡ bơm tiếp 2 – 4 nhát nữa. Trong vòng 1 giờ đầu có thể bơm thêm 2 – 3 lần nữa (mỗi lần 2 – 4 nhát). Nên dùng buồng đệm (spacer) để tăng hiệu quả của thuốc.

+ Hoặc Terbutalin (Bricanyl) bơm với liều như trên.

+ Hoặc Fenoterol (Berotec) bơm 1 – 2 lần, mỗi lần 2 nhát cách nhau 20 phút.

+ Hoặc Formoterol/ Budesonide turbuhaler 4,5/160g hít 2 nhát mỗi lần, nếu không đỡ có thể nhắc lại sau 10-20 phút, liều tối đa là 8 nhát hít.

hen-phe-quan 1
                                                            Thuốc dạng xịt thường được sử dụng điều trị hen phế quản

+ Trong trường hợp có máy và thuốc khí dung: nên  bệnh nhân khí dung luôn nếu sau 2 – 3 lần xịt không có kết quả.

– Nếu dùng thuốc cường bêta-2 không đỡ, nên phối hợp thêm thuốc ức chế giao cảm: Ipratropium (Atrovent) bơm họng 2 nhát.

– Có thể dùng các chế phẩm phối hợp sẵn 2 nhóm thuốc trên: Berodual (fenoterol + ipratropium) xịt mỗi lần 2 phát, 20 phút/lần; hoặc Combivent (salbutamol + ipratropium) xịt với liều trên.

– Nếu tình trạng khó thở không giảm: Chuyển nhanh đến bệnh viện, trên đường vận chuyển dùng thêm:

Dùng salbutamol hoặc terbutaline xịt 8 – 12 phát liên tục vào buồng đệm cho bệnh nhân hít thở.

+ Terbutaline hoặc salbutamol (ống 0,5mg) tiêm dưới da 1 ống.

– Corticoit đường toàn thân:

+ Prednisolone 40-60 mg uống.

+ Hoặc Hydrocortisone 100mg tiêm tĩnh mạch

+ Hoặc Methylprenisolone 40mg tiêm tĩnh mạch.

– Có thể dùng một số thuốc khác trong trường hợp không có sẵn hoặc không đáp ứng các thuốc nói trên:

+ Aminophyllin 5 mg/kg cân nặng cơ thể, tiêm tĩnh mạch chậm trong 20 phút.

+ Adrenalin 0,3 mg tiêm dưới da. Nếu cơn không giảm có thể nhắc lại sau 20 phút với cùng liều trên. Không nên tiêm dưới da quá 3 lần, nên thay đổi vị trí tiêm để tránh hoại tử tại nơi tiêm.

 Theo suckhoedoisong

SHARE